12 thg 5, 2016

ĐẢO LÝ SƠN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM!

Sau 1 tiếng từ cảng Sa Kỳ lênh đênh trên biển, cập vào đảo, tắm táp qua quýt, phi lên chùa Đục. Đây là một quần thể những hang đục vào đá của các vị thiền sư xưa. Họ ngồi thiền , tu luyện rồi viên tịch ở đó. Giờ được sửa sang xây cất thêm một số hành lang, cảnh quan làm điểm du lịch. Ước gì nó vẫn nguyên vẹn hình hài như thuở ban sơ chắc không khí tâm linh sẽ thiêng liêng hơn!
Rồi xăm xăm xuống núi, ra Thạch cổng Tò Vò để săn hoàng hôn. Hình như ai cũng muốn ghi hình khi đặt chân lên Lý Sơn, nên nơi đây chen chúc, rất lâu mới dành được chút không gian cho mình. Thấy mọi người trèo lên cổng để có tấm hình chinh phục cổng nham thạch ( dấu tích phun trào của núi lửa hàng triệu năm trước!), bảo con trai muốn có kỉ niệm như thế không, nó bảo: ai cũng đua nhau đứng lên đó, sức chịu đựng của nó có hạn, người sau lấy đâu Thạch cổng Tò Vò mà chụp nữa! Nó là đứa hay đi phượt, cảnh đẹp trong ống kính nó không phải là ít, vậy mà nó đưa ra một câu nói làm mình thấy nó chẳng những biết chiêm ngưỡng mà còn biết giữ gìn, bảo vệ cái đẹp. Tự hào về giai nhà quá đi!
Sáng nay đến bảo tàng "Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc hải" xem những hình ảnh, văn tự dưới triều Nguyễn về việc cắt cử hùng binh đi bảo về Hoàng Sa. Sau đó thẳng đến Chùa Hang. Đúng như tên gọi, chùa nằm trong một hang đá, mỗi khi chiêm bái, khấn vái thì đi xuống mấy bậc cấp. Cửa hang ẩm ướt vì những giọt nước thấm qua đá nhỏ xuống nền. Vào chùa Hang không khí mát rượi. Nơi đây có ban thờ chính và nhiều ban thờ nho nhỏ ( cả ban thờ thuỷ tổ thờ cúng đầu tiên của hang này).
Từ chùa Hang, đi lên núi Thới Lới, với độ cao 169m. Lúc đầu phóng xe máy tưởng cũng tà tà , ai dè lên đỉnh, gió thổi dữ dội đúng nghĩa "bạt mạng"! Người và xe xiêu vẹo trước gió kinh hoàng. Cố sống cố chết chụp một tấm ảnh "chinh phục đỉnh cao" bên cột cờ của đảo Lý Sơn có cờ đỏ sao vàng 5 cánh ngạo nghễ phần phật bay trước gió!
Đến khi nhìn xuống hồn bay phách lạc, phải nhờ chở xuống!
Vậy mà hoàn hồn rồi lại muốn ngó nghiêng hồ chứa nước Thới Lới, nguyên là miệng núi lửa xưa. Muốn lên đây phải lên đỉnh núi khác, đường ôm quanh núi, một bên là vực sâu, lại sợ và run! Nhưng đã đi Lý Sơn mà không xem miệng núi lửa lớn nhất Đông Nam Á thì quả là phí một chuyến phượt!
Lại xuống dốc để tới Hang Câu. Đây là một chiếc hang khổng lồ, vòm đá cao lồng lộng. Có lẽ trải qua triệu triệu năm sóng đánh mòn mà tạo nên. Và chắc là người đi câu thường vào trú ở đây mỗi khi đi câu nên nó có cái tên như thế. Nghe kể ngày xưa vua và Tổng thống chế độ cũ thỉnh thoảng cũng đến đây thưởng lãm, hóng gió!
Nhiều con đường trên đảo đều đang ngổn ngang vật liệu xây dựng các công trình, nhà cửa. Lý Sơn như bừng tỉnh sau những năm dài chìm trong giấc ngủ vùi. Nhưng du khách cũng không ngần ngại khám phá kể cả phải len lỏi qua những con ngõ đang trở thành công trường. Muốn lên gác cao nhất của ngọn hải đăng cao 65m phải mướt mồ hôi đi như thế. Đúng là đứng trên ngọn đèn biển mới "thu vào tầm mắt muôn trùng nước non", mới cảm hết được nghĩa của sự dẫn lối cần thiết như thế nào với tàu thuyền lênh đênh giữa biển khơi nghìn trùng sóng vỗ!
Ra Lý Sơn mà chưa qua đảo Bé là mất đi một phần của sự khám phá "ô cửa bí mật"! Cách đảo Lớn đúng 10 phút đi ca nô cao tốc. Ngồi trên ca nô gió lồng lộng, máy chạy trên mặt biển không tròng trành, lênh đênh mà như cày sườn sượt trên mặt phẳng cứng vậy. Cảm giác thật lạ, vừa thích thú vừa sờ sợ mơ hồ thoáng qua!
Cập bến Đảo Bé là lên ô tô điện để dạo quanh  Đảo. Nửa vòng phía Đông có những bãi đá nằm trên mặt nước trong vắt, mọi người dừng xuống tha hồ chụp ảnh. Xong lại lên xe ngược vòng phía Tây. Nơi đây từng dãy núi đá thành hang, thàng động vừa đồ sộ cao vời, vừa thoai thoải, gần gũi. Các tảng đá đen- trầm tích núi lửa ( đang được đề nghị công nhận Công viên địa chất toàn cầu!) xếp từng tầng lớp, kiểu dáng rất tuyệt vời, khiến ai đã đến đây không thể không chụp hình kỉ niệm!
Hàng quán mọc lên dân dã với hải sản tươi ngon bổ rẻ, tiếp đón  giản dị, chân chất của dân vạn chài mon men làm kinh tế du lịch. 
Đảo Bé còn có cái thú là được lặn biển để xem san hô và các loài cá bơi lội tung tăng. Muôn màu sắc, cử động rất cuốn hút các tay lặn không chuyên! Còn gì thú hơn một vùng biển hoang sơ, hấp dẫn hơn như thế!
Mà Biển Lý Sơn còn đặc biệt ở nước có 3 màu: gần bờ nước trong như kính, tiếp theo là màu xanh lá cây và ngoài cùng là màu xanh dương !
Người dân Lý Sơn nổi tiếng với nghề trồng hành, tỏi và vẫn muôn đời thuỷ chung với nghề đi biển. Với cái chất mặn mòi, thô ráp của vùng sóng gió đại dương nhưng người Lý Sơn rất hiền hoà, thân thiện , cởi mở. Họ vừa quăng chài kéo lưới, vừa chống chọi với giặc Tàu một cách khôn khéo, kiên trung, bất khuất. Giờ kiêm thêm dịch vụ, hướng dẫn khách du lịch, người Lý Sơn đang bắt nhịp với tốc độ đổi thay của cuộc sống mới.
Thương lắm người dân chân chất, hiền hậu ở nơi không biết đến cướp bóc, trộm cắp...( cửa nẻo cứ mở vô tư, xe cộ để ngoài sân có khi cả ngoài ngõ không cần khoá!). Họ yêu từng luống tỏi, bờ cát, thuỷ triều lên xuống... Họ từng đi mở mang, bảo vệ bờ cõi biển đảo tít tận Hoàng Sa, vậy mà bọn Tàu cứ đến quấy phá vùng biển chủ quyền của họ, đánh bắt, cướp phá tàu thuyền của họ. Sao mà không căm thù được? Mồ mả ông cha chúng có ai giày xéo, đụng chạm đâu mà nó cứ dòm ngó, lấn chiếm đường sống của họ? Biển trời đã phân định, nhất định chúng sẽ bị trừng phạt đích đáng! Đảo Lý Sơn là của người Lý Sơn, của đất mẹ Việt Nam! Muôn đời bất diệt!
Nếu chưa một lần đặt chân đến đây sẽ vô cùng đáng tiếc khi rời cõi tạm này!
(Ngày 7/5/2016)

19 thg 2, 2016

TÌM VỀ CHỐN XƯA

Có lẽ trong cuộc đời của mỗi con người, dấu ấn tuổi thơ bao giờ cũng đậm nét & chiếm một phần rất lớn trong bộ nhớ không phải là không có giới hạn mà tạo hoá đã ban cho.
Tôi cũng vậy! Dù qua bao biến đổi của cuộc sống vốn vận động không ngừng, trong tôi những kỉ niệm tuổi thơ luôn đau đáu, và ngấm ngầm hẹn ước ngày trở về. Có phải đó là một tuổi thơ ám ảnh vì đi qua chiến tranh, vì xa ba má khi chưa đủ ấm áp để chống chọi với giá lạnh của tự lực, tự giải quyết những nỗi đời muôn mặt ở một nơi hoàn toàn xa lạ kể từ khi tôi chào đời. Kí ức sơ tán trở đi trở lại trong tôi đến mức tôi muốn chạy về nơi ấy dù chỉ một chốc lát để nhìn thấy hình hài  cái ngày xưa đầy ngỡ ngàng, và dần dà đã đi vào một phần đời  của  tôi nó như thế nào, có trùng với hồi tưởng của tôi không.
Và tôi đã thực hiện bằng được ước mơ của mình.
Những ngày cuối của năm Ất mùi, 2015 đang trôi, tôi vùng ra đi. Không hiểu sao bao nhiêu miền quê tôi đã đi qua mấy chục năm trời mà tôi vẫn nhớ như in cái xóm Thịnh Đa, thôn 1, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây đến thế! Có phải vì nơi ấy tôi đã rời tay ba má tôi để ở lại với những người chưa hề quen biết với một nỗi bơ vơ, sợ hãi? Không hẳn là thế! Hình như chiến tranh làm cho lứa tuổi của những người như tôi bấy giờ phải biết chấp nhận thực tế một cách dứt khoát như người ta lựa chọn giữa sự sống với cái chết vậy thôi. Với lại còn quá nhỏ nên thấy sự lạ lẫm còn khêu gợi tò mò khám phá hơn là níu giữ cái quen thuộc hàng ngày. Nên tôi cùng em đã ở lại tỉnh bơ, chỉ đêm mới nhớ cồn cào tổ ấm ở Hà Nội, nhớ ba má, chị em,..nhớ mùa đông với tiếng rao đêm da diết dội vào chăn ấm.
Bốn mươi năm có lẻ, lần tìm về chốn xưa, tôi hồi hộp hỏi đường. Gặp ai tôi cũng tả lại nơi tôi từng sống như thể tôi vừa đi vắng đây thôi. Tôi tìm những người tuổi cao để hỏi . Vậy mà tôi cũng gặp phải vài sự ú ớ suýt làm tôi thất vọng! May quá có một bác đi lướt qua nghe tôi hỏi đã chỉ cho tôi một cách tận tình. Thì ra bác là cựu chiến binh, cùng sinh hoạt Hội CCB với con bà chủ nhà tôi ở - người vắng nhà suốt thời gian tôi sơ tán, chỉ nghe nhắc đến tên trong thương nhớ của bà.
Tôi cứ đi tìm con đường lát những tảng đá vuông vức màu xanh lơ với nhưng chỗ mòn lõm mà tôi đặt chân trần những hôm trời mưa dể nghe cái trơn nhẵn xoa vào lòng bàn chân. Nhưng nó đã biến mất theo thời gian,. Hay nói cách khác là nó bị bê tông hoá một cách tàn nhẫn! Vì tôi quá lớn để đặt mình trên con đường làng hay vì người ta cơi nới nhà cửa mà cái ngõ xóm quê xưa giờ nhỏ hẳn đi? Tôi thấy nó ngoằn ngoèo y như xóm quê ngoại tôi ở Sa Huỳnh, cư dân sinh sôi mà quỹ đất không đẻ ra thêm. Tôi định vị cái giếng làng, nơi tôi từng cùng em è cổ ra khiêng nửa thùng nước mà cứ lặc lè chạm vào cổ chân mãi không về tới nhà. Vậy mà tôi không tìm thấy lối vào nhà bà Kim (Gọi theo tên con trai trưởng của bà). Tôi cứ đi tìm cái cổng sát vách làm bằng gạch tổ ong. Rồi may mắn cháu ngoại của bà đã dẫn tôi đi. Bác Kim, người con trai duy nhất của bà chủ nhà, đi bộ đội suốt những năm chúng tôi sơ tán về nhà bác, tiếp đón chúng tôi. Hồi ấy vợ của bác- “Mợ Cả”, cách gọi của chúng tôi hồi ấy, là một người con dâu khoẻ mạnh, chăm chỉ hiền lành, lúc nào cũng cười với hàm răng nhuộm đen, giờ đã thành người thiên cổ, tội nghiệp, để lại cho bác năm người con nay đã trưởng thành có gia đình riêng . Bác Kim tiếp đón chúng tôi ( tôi về cùng mấy người bạn ở Hà Nội) rất chân thành, đúng chất lính, từ tốn, ân cần. Tôi thấy đôi mắt bác nhìn xa xăm lắm, phảng phất một nỗi buồn mà tôi cảm nhận nhưng không diễn đạt được. Bác tha thiết mời chúng tôi ở lại ăn cơm với gia đình. Nhưng chưa sắp xếp được thời gian, nên tôi xin bác thông cảm để lần khác. Tôi đi tìm lại hơi ấm nơi đây. Ban thờ gia tiên của nhà bác Kim vẫn trang trọng như ngày mà chúng tôi ở đây. Ngày ấy, mỗi khi nghe tiếng máy bay gầm rú, tiếng đạn bom réo rít, chúng tôi thường chui xuống gầm ban thờ nương nhờ sự chở che của ông bà tiên tổ gia chủ với một niềm tin thành kính. Chiếc phản dành cho chị em tôi vẫn còn đây, chỉ khác vị trí thôi. Bộ tràng kỉ, mà tối tối chúng tôi ngồi, rồi lấy bèo tây hơ lên ngòn đèn dầu cho khô dẻo quắt lại, chẳng biết để làm gì. Tối nhớ cô Hồng, em bác Kim bảo chúng tôi: đứa nào lau bóng đèn cho sáng sau này sẽ đẻ con da trắng. Thế là đứa nào cũng tranh nhau lau( tất nhiên là sau khi chơi trò hơ bèo đến mức bóng ám muội khói đen xì), mà giờ đẻ con cũng có trắng như tưởng tượng đâu! Tôi tiếc những ngưỡng cửa gỗ nhà đã bị thời gian làm cho mục đi cùng những cánh cửa gỗ mở bằng chốt bản lề gỗ, giờ thay cửa ra vào bằng vật liệu khác. Tôi như thấy tuổi thơ tôi đã bị khuyết đi một phần! Nhìn ra hiên, chiếc giậu vẫn còn đó, y như tôi vẫn đang giơ tay hứng những giọt nắng bên thềm lọt qua kẽ giậu năm xưa( dù biết rằng nó phải được thay mới không ít lần với chừng ấy thời gian!). Tôi xuống bếp, thấy chiếc chạn tre phủ bồ hóng mà lòng rưng rưng, nhớ đến hình ảnh bác nồi đồng đánh nhau với chuột cống trong truyện của Tô Hoài. Đâu rồi tro bếp đun từ rơm, ủ nồi cơm sau khi cạn nước ? Đâu rồi chiếc cối giã gạo bằng chân, chúng tôi cùng mợ Cả đứng đếm nhịp mỗi khi mùa gặt rộn ràng ngày xưa? Chiếc côi xay lúa cũng bị các công cụ công nghiệp đào thải giờ ở xó nào, tội nghiệp quá! Mảnh sân ngày xưa thênh thang là thế, giờ sao nó lọt thỏm vậy? Tất nhiên chum tương đội nón đứng trên sân sẽ không còn nữa nên tôi không kiếm tìm. Bể nước mưa ngày ấy nó to làm sao, vang làm sao khi chúng tôi kiễng chân thò cổ vào hát như đứng trước dàn âm thanh cho cả ngàn người nghe giờ sao cũng nhỏ hẳn đi? Kể cả cái ao đứng bên này gọi sang bên kia nghe không rõ lời, vậy mà giờ nó cũng khiêm tốn thu mình là chứng nhân của một thời lịch sử mà không ngạo nghễ như trong hồi tưởng của tôi. Tôi chạy ra cổng làm bằng gạch tổ ong ,có mái che như cổng làng, tôi chạnh nhớ những bước chân mình đã ra vào không biết bao nhiêu lần ,giờ nó vẫn thân thương đón tôi quay về.
“Giá có ước muốn cho thời gian trở lại..” như lời một bài hát, tôi ước sao mình bé lại như xưa để thấy cảnh vật êm đềm, lớn lao, kì lạ như lần đầu bắt gặp.
Nhưng “Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”, tôi luôn mang theo những kỉ niệm trong trẻo ấy suốt hành trình cuộc sống mà tôi đã trải qua. Cho dù nó thay đổi theo qui luật thời gian, thì trong kí ức tôi nó vẫn nguyên vẹn hình khối, sắc màu kỉ niệm…Hình ảnh những người đi qua phần đời tôi mãi sống động đầy tình cảm bao dung, thân thiện. Bà Kim ăn trầu và mặc váy đen, chít khăn mỏ quạ, từng  chỉ cho tôi cách cào lúa phơi trên sân, cách đẩy rơm vào bếp liên tục như thế nào để không bị tắt.. Cô Hồng luôn bênh chị em tôi khi bị chị em đứa cùng trú ở đây bắt nạt. Tính cô rất thẳng thắn. Và cô rất nhanh nhẹn trong công việc. Những bài học thuộc lòng cô đọc mỗi đêm theo tôi đến khi tôi làm người giáo viên, tôi đã giảng lại các bài thơ ấy với một cảm xúc dâng tràn: Bầm ơi, Việt Bắc,...Cô vẫn thấp và rắn rỏi như trong trí nhớ của tôi. Giờ cô đã lên chức bà và ở nơi khác, cô tranh thủ về gặp tôi ở mái nhà xưa. Tôi thương  mợ Cả lắm. Ngày ấy mợ Cả đi làm đồng về hay bắt con châu chấu, con muồm muỗm treo trên đòn gánh rồi nướng cho chúng tôi ăn. Mợ hay quấn xà cạp và đeo lọ vôi để chống đỉa ( tôi sợ con này lắm) mỗi khi đi cấy hay làm cỏ lúa. Có những mùa gặt phải đập vào đêm trăng, chúng tôi theo mợ ra sân kho Hợp tác xã, mợ sợ chúng tôi bị xót lúa, cứ dặn đừng leo vào đống lúa. Có lần mợ cho chúng tôi những bắp ngô mới hái,  nướng lên dẻo ngọt vô cùng. Tôi nhớ mợ sinh bé gái đầu lòng, hỏi chúng tôi thích tên gì. Tuổi nhỏ ngây thơ, chúng tôi nói mợ đặt tên Thuỷ- Bích Thuỷ. Vậy là mợ đặt tên là Thuỷ. Giờ em đã có gia đình, nhưng vừa rồi tôi về chưa gặp em. Tôi gặp cô Thị là con của bà Kim giờ đã hơn tám mươi với cái Thơm, cùng trang lứa với tôi. Hồi ấy chúng tôi hay ra nhà cô Thị quấy quả, bứt cây hái quả, cô chỉ cười thôi. Có củ khoai, củ sắn, hay bất cứ thức ăn gì cô cũng cho chúng tôi. Chúng tôi đến nhà cô như về nhà mình, lục lọi, càn quét kinh hồn, mà cấm có bao giờ thấy cô phàn nàn. Cô còn bảo chúng tôi cứ ra nhà cô chơi cho vui cửa vui nhà ( cùng với đàn con của cô). Cái Thơm giờ đã là bà nội Thơm, vẫn hiền lành, hay xấu hổ như xưa. Mỗi lần thấy tụi tôi ào vào nhà nó, nó toàn nấp sau cái cột nhà nhìn mà không nói câu nào. Chỉ khi chúng tôi vào bếp lấy rơm nướng cái gì đó, nó mới bảo “khéo cháy nhà đấy, dập bớt lửa đi!”. Hồi ấy nó bị bệnh đi tiểu ra màu như nước vo gạo. Má tôi đưa ra bệnh viện Xanh pôn Hà Nội, nơi má tôi làm việc, để chữa trị. Ngày ấy có chuyên gia Cu Ba hội chẩn và kết luận nó bị “Đái ra dưỡng chấp”. Họ điều trị dứt luôn. Cả gia đình cô Thị và gia đình tôi đều vui mừng không tả xiết. Giờ nghe đâu nó đang có dấu hiệu tái phát, tôi tin là khoa học bây giờ sẽ giúp nó chữa lành !
Hình ảnh làng quê, cảnh vật cuộc sống, con người tôi đã gửi gắm một phần đời của mình sẽ được lưu lại mãi trong tôi.

Hành trình trở về chốn xưa của tôi phải đi một quãng đường gần nửa thế kỉ. Rồi hôm nay cũng sẽ thành kí ức của ngày mai. Tôi trân quý những gì đã qua như một cách hướng đến ngày mai với điểm tựa vững chãi cho tâm hồn, có gì gọi là quá đa cảm chăng?
( Tháng 2/2016)

29 thg 1, 2016

VỀ ĐẤT PHẬT Ở KINH BẮC


Mong muốn được vãn cảnh những ngôi chùa trăm năm, ngàn năm tuổi đã lâu. Giờ duyên đến lại từ một lần đi ăn giỗ. Bạn mời về lần Chọi quê bạn , vốn ham vui & thú cái cảnh điền viên ở làng quê Bắc bộ, chẳng cần băn khoăn, tôi thao thức suốt đêm chờ sáng lên đường.
Tôi chưa phải là một người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, mỗi thứ biết một tí, đặc biệt về giáo lý Phật pháp. Nhưng không biết vì sao mỗi khi tới chùa chiền, miếu mạo ,đình đền, …lòng tôi lại chùng xuống, bình yên rất lạ! Niềm tin về cội nguồn tiên tổ, về những điều tâm linh không diễn tả được thành lời lại hiện hữu trong tôi khiến chân tôi trở nên nhẹ nhõm cất bước đến nơi thờ phụng với sự kính ngưỡng rất thành tâm.
Tôi nhớ lần (cũng tình cờ được mời) đi Yên Tử . Tôi đọc dòng chữ “Trăm năm một kiếp tu hành/ Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu”, tôi miên man nghĩ về cõi thiền. Đã lên tới Chùa Đồng- đỉnh Yên Tử, dù chưa đủ duyên để “thành quả tu”, nhưng tầm mắt tôi đã được mở ra rộng hơn, bao quát hơn rất nhiều so với những gì quẩn quanh của cuộc sống thường ngày nơi đất thấp người đông.


Trước tượng Phật chùa Phật tích
Lần này tôi về đất Phật Kinh Bắc, tôi được đi chiêm bái chùa Phật Tích, một ngôi chùa cổ hàng ngàn năm tuổi của nước Việt. Tôi yêu quý từ những linh vật canh chùa: Nào Nghê, Rùa ,Voi,..đến những bậc cấp rêu phong trước mưa nắng, gió bão, của thời gian. Tôi ngắm nghía các ngưỡng cửa lắp các cánh gỗ được chạm khắc hoa văn tinh xảo, mà bản lề chỉ là những lõi gỗ nhỏ chắc chắn.


Linh vật canh Đền (con Nghê)
Tôi mê mẩn ngắm mái chùa với những vuốt cong mềm mại của thân rồng uốn lượn. Lòng tôi nôn nao nhớ những buổi chiều nơi sơ tán, nhớ ba má, tôi hay nhìn lên nền trời mỗi lúc một tối in hình những nét cong của mái chùa như thế. Tôi thích cả độ võng xuống của thanh đà chạy ngang trên mái chùa. Tôi chẳng cần biết vì sao mái ngói như những vẩy cá xếp so le từng hàng gắn kết thế nào để không bị tụt xuống. Trong sâu thẳm chốn tâm linh tôi, chùa thâm nghiêm cổ kính che chở cho những niềm tin bất diệt của con người trong khổ nạn và cả khi hạnh phúc, bình an!


Ẩn mình giữa rêu phong của khuôn viên chùa
Kì lạ là vào trong chùa bao giờ cũng thấy dịu mát, dù bên ngoài thời tiết có điên đảo cỡ nào! Các ban thờ được sắp xếp theo thứ bậc trang trọng. Các vật phẩm thờ được bày biện rất bài bản theo truyền thống dân tộc rất chuẩn chỉ. Đặc biệt là các pho tượng sơn son thiếp vàng, đường nét mềm mại, khác hẳn các tượng đá gọt đẽo tinh vi hiện đại bằng máy móc thời công nghệ. Các vị La Hán, mỗi người một vẻ, dù tôi đã thấy ở nhiều chùa, nhưng sao dáng vẻ của các vị ở đây khiến tôi thấy gần với cõi trần đến thế! Tôi chắp tay khấn vái những lời từ tâm mà có lẽ rất vụng về so với những người quanh tôi. Bởi tôi thấy họ lạy rất khéo, lời khấn rì rầm của họ vẳng bên tai tôi cũng rất vần điệu mượt mà. Tự nhiên tôi mơ hồ nhớ đến câu “Kinh nhà Phật dù hay đến đâu mà sư ngọng đọc ,vẫn sai!”. Thôi miễn mình lòng thành, Phật từ bi sẽ chứng dám!
Chúng tôi tiếp tục đi thăm đền Đô, còn gọi là đền Cổ Pháp. Từ xa xưa, Cổ Pháp được liệt vào làng “Tam cổ”, “Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì cổ Loa, thứ ba Cổ pháp”. Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, vượng khí, linh thiêng. Làng Cổ pháp được cho là nơi phát tích của triều đình nhà Lý kéo dài hơn 200 năm.
Khu vực nội thành có kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc". Chính điện thờ vua Lý Thái Tổ. Bên trái điện treo tấm bảng ghi “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Bên phải treo bảng ghi bài thơ nổi tiếng”Nam quốc sơn hà”. Sau cùng Cổ Pháp là nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng của 8 vị vua nhà Lý.
Cổng vào nội thành gọi là Ngũ Long Môn vì hai cánh cổng có trạm khắc hình năm con rồng. Trong nội thành có các nhà thờ xây kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại. Khu ngoại thất đền Lý Bát Đế gồm thủy đình trên hồ bán nguyệt. Hồ này thông với ao Cả trên và ao Cả dưới. Thuỷ đình đền Lý Bát Đế từng được Ngân hàng Đông Dương thời Pháp thuộc chọn là hình ảnh in trên giấy bạc "năm đồng vàng" và là hình in trên đồng tiền xu 1000 hiện nay.
Ngoài ra, ở khu vực ngoại thành còn có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và đền vua Bà (thờ Lý Chiêu Hoàng, còn gọi là đền Rồng), v.v…Tôi lại chìm trong chuỗi liên tưởng những rối ren của lịch sử thời nào cũng có, và tôi xót xa cho vua Bà Lý Chiêu Hoàng không được sánh ngang các vị vua trước trong đền nội thành!
Tại đây tôi gặp một người thoạt đầu tưởng chỉ canh giữ Đền, sau mới biết ông là Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động bởi nhiều đóng góp trong giáo dục và ghi chép, lưu giữ những giá trị di sản văn hoá dân tộc, sáng tác thơ, nhiếp ảnh, tên ông là Nguyễn Đức Thìn. Ông tự cho mình là người tâm giao với Hàn mặc Tử ( vì ông cũng mang căn bệnh khổ đau như thi sĩ họ Hàn) và lấy bút danh là Nhiệt Cảm Sinh. Ông kí sách về Lịch sử đền Đô tặng tôi. Tôi nghĩ về phận người tài sao quá truân chuyên!
Ra về lòng tôi tràn ngập những cảm xúc về các bậc Đế Vương muôn đời của dân tộc. Nếu không có những ngôi Đền này, hậu thế tìm về đâu dâng bái lòng kính ngưỡng biết ơn?

ĐỀN BÀ CHÚA KHO
Đền Bà Chúa Kho nằm trên lưng chừng ngọn núi Kho, tại khu Cổ Mễ, Phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh .
Đền Cổ Mễ thờ Bà Chúa Kho chính là nơi tưởng niệm một người phụ nữ Việt Nam đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời kỳ trước và sau chiến thắng Như Nguyệt.
Vào đời nhà Lý, Bà có công giúp triều đình trông coi kho lương thực tại Núi Kho (tỉnh Bắc Ninh) và đã "thác" trong cuộc kháng chiến chống quân Tống vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1077).
Nhà vua thương tiếc phong cho Bà là Phúc Thần. Người dân nhớ thương Bà lập nên đền thờ tại kho lương thực cũ của triều đình ở Núi Kho và gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho.
Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm gần đó. Sau khi lấy vua Lý, thấy ruộng đất ở đây bị hoang hoá, bà xin vua cho về làng chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang. Không ai biết tên bà, khi bà qua đời, nhân dân lập đền thờ để ghi lại công ơn bà là đã hết lòng chăm lo cho dân ấm no, trông coi các "lẫm thóc, lẫm tiền" của Nhà nước. Công lao của bà đã được triều đại phong kiến ghi nhận qua việc sắc phong đền thờ bà là "Chủ khố linh từ" (Đền thiêng thờ bà Chúa Kho). Ở thôn Cổ Mễ còn một ngôi đình và ngôi chùa cổ. Chùa Cổ Mễ có từ lâu đời. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc. Chùa còn lại đến nay là kiến trúc thế kỷ XIX, làm theo kiểu chữ T chạm khắc công phu.
Đúng là hữu xạ tự nhiên hương! Hơn tất cả những tiếng rao của phương tiện thông tin hiện đại về những gì phù phiếm, giả tạo của những cái gọi là”Thiện nguyện” miễn cưỡng theo phong trào mà không một chút từ tâm của ai ai đó! Công đức vô lượng vô biên của các bậc tiền bối, con cháu sẽ đời đời ghi khắc với tất cả lòng thành, cho dù ngay cả cái tên cúng cơm cũng không được chạm trổ mạ vàng!
Đất Kinh Bắc quả là nơi quy tụ linh khí của Đất trời nước Việt! Còn nhiều điểm nữa tôi chưa đi hết. Nhưng trong quỹ kiến thức và cảm xúc tôi bỗng giàu lên bất ngờ so với quãng thời gian dài tôi để nó vùn vụt trôi mà không có điều kiện tích luỹ.
Có lần tôi đã nghe một giáo sư triết học nói về Nho giáo- Lão giáo- Phật giáo, đại khái một người chân chính trong hệ “Tam giáo đồng nguyên” có thể theo Nho nhập thế hành đạo vào tuổi trẻ, theo Lão để tiêu dao thanh thoát trong lúc thất bại đau khổ và có thể theo Phật để giảm trừ tham, sân, si bớt đi những hệ luỵ gian trần. Ở cái tuổi “Ngũ thập tri thiên mệnh” tìm về chốn cửa Phật âu cũng là hợp quy luật để tĩnh tại tậm hồn, an lạc với quỹ thời gian Thiên định. Và tôi luôn thấy lòng nhẹ nhõm nơi những ngôi Chùa tôi đặt chân tới. Dù biết mình chưa có duyên tu, nhưng ý thức được sự tu tập trong cõi ta bà là cần thiết, có phải cũng là cơ may cho tôi ở kiếp này chăng?
Rời Đất Phật, tôi tin linh khí của Đất Trời sẽ thẩm thấu vào tâm thức tôi, những hình ảnh, kỉ niệm ở đây làm hành trang cho tôi tiếp tục hành trình của sự sống phía trước!
(Tháng 01/2016)
Bước chân an lạc



26 thg 1, 2016

ĂN GIỖ Ở LÀNG QUÊ BẮC BỘ

Đầu tiên là ham vui nhận lời đi về quê bạn ( mà cách nay mấy chục năm đã từng về) để ăn giỗ bác của bạn. Đó là một làng quê Kinh Bắc mang đậm nét văn hoá dân gian Bắc bộ.
Làng Chọi là một trong ba mươi sáu làng quan họ cổ của Bắc Ninh. Ở đây đúng là " một làn nắng cũng mang điệu dân ca". Từ cung cách chào hỏi, đi đứng của người làng đều mang dáng vẻ rất riêng của liền anh, liền chị duyên dáng, tao nhã. Đến cổng làng, đình miếu, nhà cửa và các đồ vật cũng như cách bài trí đều mang nét dân gian cổ xưa của làng quê nhiều phong tục đặc trưng của Bắc bộ
Lâu lắm rồi mới lại được sống trong không khí rộn ràng của một đại gia đình đầm ấm cùng lo biện sửa mâm cỗ cúng. Ban thờ sắp xếp thứ bậc rõ ràng, nghi ngút khói hương, các món ăn được bày rất bắt mắt. Những món cổ truyền như canh sườn khoai sọ, vịt xáo măng, miến gà...
Vẫn bố trí chiếu trên gồm các vị cao niên, ngồi trên sập gụ hai bên ban thờ. Phía trước dần ra sau là thứ tự các bàn 6 người theo thứ tự vai vế trong họ, trong gia đình từ lớn đến nhỏ dần.
Sau khi ăn giỗ mỗi người ra về sẽ được một gói đem về gọi là "lộc". Có lẽ câu " vừa được ăn, vừa được nói, vừa được gói đem về" xuất phát từ những lần đi ăn cỗ như thế này chăng?
............
Ăn giỗ ở làng Đại Áng
Làng Đại Áng thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Chỉ cách hơn nửa tiếng đi ô tô , nhưng hình ảnh về một làng quê xưa còn nguyên dấu tích dân gian Việt Nam.
Vào làng cũng đi qua cổng chính( còn có hai công phụ hai bên). Mái cổng uốn lượn, lợp ngói cổ đã rêu phong, dù đã được trùng tu qua thời gian. Làng Đại Áng có hai giếng làng, một hình vuông và một hình tròn. Trước cả hai giếng đều xây bằng đá ong và có bậc cấp để đi xuống. Giờ người ta đã thay bằng gạch thẻ, trông nó sạch sẽ quá mức, như thể cô thôn nữ đang duyên dáng tự nhiên bôi son trét phấn thành ra nửa thôn quê, nửa thị thành! Thật tiếc! Giữa làng có ngôi chùa cổ, các tượng Phật không nhiều nhưng cũng được tạc giống ở các chùa khác ở Bắc bộ. Trong chùa có một toà tháp toạ lạc trên mai cụ rùa, nằm trong một hồ vuông cổ.
Chùa thông sang một ngôi đình. Đúng ngày hội đình, dân làng trong áo dài khăn đóng đủ màu, (chủ yếu là màu vàng và màu hồng) cỗ bàn la liệt. Mọi người đi lại tấp nập, nét mặt tỏ ra bận rộn một cách vui vẻ, hào hứng.
Về nhà bác của em dâu( lại là bác!) ăn giỗ. Ngôi nhà này vẫn còn nguyên vẹn kiến trúc cổ. Vào nhà bước qua ngưỡng cửa, cánh cửa gỗ đóng mở bằng chốt gỗ.Ban thờ được bố trí từng tầng bậc theo tôn ti tổ tiên ông bà ...
Mỗi mâm giỗ ở đây cũng chỉ có sáu người. Đặc biệt là có món thịt cầy, được chế biến nhiều kiểu, trông qua rất bắt mắt. Nhưng với lí do riêng, tôi không ăn thịt cầy, nên được bố trí ngồi mâm với những người không dùng món này. Tôi được nghe nhiều câu chuyện đời , chuyện làng trong bữa ăn ấm áp tình thân ấy. Nhấm nhi từng món, tôi hồi tưởng ngày bé đi sơ tán tôi cũng từng ăn giỗ như thế. Hoá ra mình rất có duyên ẩm thực!
Rất hay ở chỗ là ra về lại được nhận "lộc" từ gia chủ. Một việc làm rất giàu tình cảm gắn bó chia sẻ của bà con họ hàng!
Vậy là chuyến đi của tôi về làng quê Bắc bộ thú vị nhiều hơn tôi tưởng. Tôi trân quý những làng quê và những gương mặt thân thiện đã cho tôi những kỉ niệm đẹp về Đất nước, con người Việt yêu dấu.
Cảm ơn bạn bè, bà con đã tạo điều kiện cho tôi có những giây phút tuyệt vời!

(Tháng 12/2015)

28 thg 10, 2015

LÂU LÂU VỚ ĐƯỢC SÁCH

Dạo này thời gian ( kể từ ngày xếp bút nghiên!) toàn bị tiêu tốn vô bổ, mạng miếc, cà phê cà pháo, rồi những việc chẳng ra đâu vào đâu. ...Sách xiếc bị lãng quên. Vừa rồi buộc phải ngồi một chỗ ( không goai phai goai phủng) để giám sát công việc của thợ lắp sàn gỗ (ấy vậy mà vẫn bỏ sót chi tiết), dắt theo tập tản văn, tưởng chỉ dành cho tuổi xì - tin, tặc lưỡi định giết thời gian. Bất ngờ suy nghĩ miên man…
Thoáng qua bìa sách với cái tên  “Tạm biệt, em ổn!”- Tác giả Tờ-Pi, tưởng lại một mối tình non trẻ tan vỡ, nhân vật cố gượng dậy sau một cú sốc nào đó. Hay một thuyết minh cho trào lưu đơn thân sau ‘Hợp đồng dài hạn” gặp sự cố,..Không ngờ gặp một phong cách bụi (vàng), một vốn sống vượt qua ngưỡng tuổi người cầm bút. Như tác giả khẳng định “Tôi không phải là nhà văn, tôi chỉ là một người kể chuyện, những câu chuyện của tôi” “Rất đời! Rất người!”.
Tập sách có sức hút kì lạ, cứ như  ta đang trò chuyện rất ăn ý với một người mà lâu lâu mới gặp được. Không vòng vèo, màu mè uốn éo, đi thẳng vào những câu chuyện “rất đời” bằng cách nhìn thấu, nhìn hiểu và nhìn cảm. Chứ không phải cái giọng “đời” giễu nhại, am tường, vô cảm!
“Đời” trước hết ở giọng kể, không né tránh, cầu toàn, gọt giũa câu chữ. Đôi khi lời ăn tiếng nói được bê nguyên vào trang viết, cách luyến láy như ta vẫn thường nói chuyện với nhau hàng ngày  , kiểu như: “Có vài ba bậc phụ huynh ở quê ngơ ngơ ngác ngác áo dài óng ánh vỗ tay cười ngượng ngiụ trước đám bâu nhâu như lũ khỉ ở Hoa Quả Sơn” ( Một  đám cưới)
“Đời” ở công việc, luôn phải va chạm với những hạng người bị xếp vào “xã hội đen”(dân cửu vạn, bảo kê, buôn lậu,…) để điều tra, để phá án,…nhưng lại luôn nhìn họ với con mắt cảm thông, sự chia sẻ ngấm ngầm, sự dằn vặt trước những mảnh đời vất vưởng, bụi bờ bị lãng quên, bị xô đẩy, bị dày xéo,..Có những lúc rơi vào cảnh nghiệt ngã, chính những người có tiền án tiền sự lại sẵn sàng giúp đỡ người đang thực thi nhiệm vụ vì an ninh cuộc sống ,..vượt qua hoạn nạn, trong khi những người thường ngày tỏ ra tử tế lại ngoảnh mặt làm ngơ, thế nên tác giả mới có lời rằng“ bạn chỉ cần một lần nhìn họ không bẩn, không bựa thì chắc chắn họ còn tử tế hơn vạn lần những kẻ có học đạo mạo bạn gặp ngoài kia”.  Có đôi khi kể về một số phận được cứu rỗi, Pi mỉm cười vì thấy mình ít ra đã quảng phao đúng lúc cho một linh hồn chỉ còn lại mảnh xác vật vờ trôi nổi qua ngày trên dương gian. Ấy là một thằng nọ sống bằng nghề ăn mày, Pi hỏi nó biết hát không, hát mà xin tiền. Thế rồi từ một thằng ăn mày, hắn đã xây dựng một gia đình lao động tử tế, sinh con đẻ cái, với ước mơ cho con đến trường để sống một cuộc đời khác đời cha mẹ chúng. Không phải tự nhiên, sau mảnh đời lê lết,lầm lỗi của họ tác giả lại cất lên câu hát “Ta tiếc cho em trong cuộc đời làm người/ Ta xót xa thay…Em là một cánh hoa rơi”(Trịnh Lâm Ngân)
“Đời” ở những câu chuyện về bà bán bún gà (máy bay bà già, có một giai kém hơn chục tuổi - phi công trẻ- đeo đuổi) vẫn chăm chỉ làm ăn, tạo cơ ngơi cho con cái, bị chúng nó phá phách, nghiện ngập. Chuyện về các hot- gơ chỉ dựa vào vốn tự có để lấy ngắn nuôi dài, lại còn khinh bạc nhìn đời, dè bỉu hạnh phúc chân chính của những người xung quanh mình qua những món vật chất tầm thường ( mà cứ ngỡ là tất cả sự sống!),…ở họ vẫn trọng người nghĩa khí, không cậy quyền cậy thế, biết lắng nghe, chỉ dẫn, hướng thiện cho họ
”Đời” ở những mảnh tình rất mặn nồng khi chưa qua thử thách và nhạt thếch khi gặp chướng ngại vật dù giản đơn mà không đủ sức vượt qua, hay chỉ muốn theo một lối mòn khuôn mẫu có sẵn. Nhưng thứ tình mong manh khiến Tờ -Pi thà cô đơn còn hơn phải chịu sống nhục.
Tản văn hầu như viết bằng giọng tỉnh rụi, câu rất ngắn, đôi khi cộc , khô khốc lại thấm đẫm tình người. Tình yêu thương những người phụ nữ bị đối xử bất công. Họ chiều chồng, thương con, phụng dưỡng cha mẹ, lại bị mẹ chồng coi chẳng ra gì ( lúc nào cũng ca ngợi trắng trợn những con dâu hụt trước mặt đứa sinh cháu nội đích tôn cho mình), chồng thì mải mê gái gú, hoặc đạo đức giả, bóng sáng diễn giỏi trước đông người, miệng còn leo lẻo “ sống là nghệ thuật”, nghệ thuật của kẻ xôi thịt!
Những tiếng thở ra sau mỗi cảnh ngộ lâm li của nhân vật ( bị thất tình, lừa tình hay tình lừa …) mà tác giả tiếp xúc đều khiến người đọc bùi ngùi theo.
Cái cụm từ “Người ta” thiên hạ quen dùng, có mấy ai phản biện: Mày cứ ngông thế người ta đánh giá! Mình sống làm sao đừng để người ta đồn thổi chơi bời này kia! Sợ người ta bảo hư không lấy được chồng! Mặc thế này ra đường sợ người ta bảo già mà đú không?...Rồi kết: “ Người ta không  nuôi mình, không cho mình xu nào để sống, cũng chả làm mình vui, mình sướng, mình hạnh phúc được thì sao phải “xoắn” người ta nhỉ?
Theo Tờ -pi “ gia đình là tất cả”! Trong nhiều câu chuyện kể về đời, về người, ở những thời điểm gấp gáp vội vã, nguy hiểm hay bình an, hình ảnh cha mẹ tuy chỉ thấp thoáng nhưng vô cùng gần gũi, yêu thương. Đó là những quả dưa leo sạch bu gửi cho để đắp mặt vì suốt ngày phơi mặt ngoài đường, đó là những câu hỏi của cha về người giai  chở con vừa thấy trước ngõ cười toe toét đã mất tăm mất dạng. Cha mẹ hiện lên qua cách xử lí những tình huống nghiệp vụ chuyện sâu với tư cách đồng nghiệp , đồng hành. Họ cũng là bậc tiền bối đáng kính mà nếu kẻ vô ơn quen thói chửi đổng, sẽ bị dằn mặt, cảnh cáo.

Nói chung,  đọc “Tạm biệt, em ổn!”, thấy rất ổn! (Trừ  “người ta” nào đó thấy không ổn, thì đấy là việc của họ!)
Lên đầu trang
Vào giữa trang
Xuống cuối trang